Bản tin Tháng 04/2026
Ngày 29/05/2026
Sửa đổi mức xử phạt đối với hành vi không báo cáo tập trung kinh tế
Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh (“Nghị định 102”). Theo đó, một số thay đổi về mức xử phạt có hiệu lực kể từ ngày 20/5/2026 như sau:
- Đối với hành vi không thông báo tập trung kinh tế, Nghị định 102 thay mức phạt tiền từ 1% đến 5% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm bằng mức phạt cố định theo quy mô doanh nghiệp, nhưng vẫn không vượt quá 5% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm, cụ thể:
· Phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam, tổng doanh thu bán ra và tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt dưới 3.000 tỷ đồng trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế;
· Phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam hoặc tổng doanh thu bán ra hoặc tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt từ 3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế.
- Nghị định 102 bãi bỏ một số hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với hành vi hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác và hành vi lôi kéo khách hàng bất chính.
- Áp dụng trong giai đoạn chuyển tiếp:
· Đối với hành vi vi phạm xảy ra và kết thúc trước ngày 20/5/2026 mà sau thời điểm này mới được tiến hành điều tra hoặc đang được xem xét, giải quyết thì áp dụng quy định của Nghị định 102;
· Đối với hành vi vi phạm xảy ra trước ngày 20/5/2026 nhưng vẫn đang diễn ra sau thời điểm này thì áp dụng quy định của Nghị định 102;
· Đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh đã được ban hành trước ngày 20/5/2026, mà tổ chức, cá nhân bị xử lý vi phạm còn khiếu nại thì áp dụng quy định của Nghị định số 75/2019/NĐ-CP.
Trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì của nhà sản xuất, nhập khẩu từ ngày 25/5/2026
Ngày 01/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 110/2026/NĐ-CP (“Nghị định 110”) quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu. Theo đó, trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì kể từ ngày 25/5/2026 được thực hiện như sau:
- Đối tượng có trách nhiệm tái chế: Nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì bao gồm: các loại bao bì, ắc quy và pin, dầu nhớt, săm, lốp, điện – điện tử, phương tiện giao thông đường bộ để đưa ra thị trường Việt Nam phải thực hiện trách nhiệm tái chế theo tỷ lệ, quy cách tái chế bắt buộc.
- Các đối tượng không phải thực hiện trách nhiệm tái chế:
· Nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì để xuất khẩu, tạm nhập, tái xuất hoặc cho mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm;
· Nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ các sản phẩm thuộc diện áp dụng dưới 30 tỷ đồng/năm;
· Nhà sản xuất đã tự thu hồi, tái sử dụng bao bì với tỷ lệ thu hồi, đóng gói bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tái chế bắt buộc.
- Quy định về tỷ lệ tái chế:
· Tỷ lệ tái chế bắt buộc là tỷ lệ khối lượng sản phẩm, bao bì tối thiểu phải được tái chế theo quy cách tái chế bắt buộc trong năm thực hiện trách nhiệm trên tổng khối lượng sản phẩm, bao bì sản xuất, nhập khẩu được đưa ra thị trường trong năm có trách nhiệm.
· Tỷ lệ tái chế này được xác định từ 0% - 22% tùy thuộc vào loại sản phẩm, bao bì. Mức cụ thể quy định tại Phụ lục I Nghị định 110 và được điều chỉnh tăng theo chu kỳ 03 năm một lần nhưng mỗi lần điều chỉnh cộng thêm không quá 10%.
- Hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế: Tổ chức, cá nhân được lựa chọn thực hiện tái chế theo hình thức:
(i) Tổ chức tái chế sản phẩm, bao bì:
Nhà sản xuất, nhập khẩu tự quyết định việc tái chế theo các cách thức:
(1) Tự thực hiện tái chế hoặc sử dụng sản phẩm, bao bì thải bỏ làm nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm, bao bì;
(2) Hợp đồng với đơn vị tái chế;
(3) Ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế;
(4) Kết hợp các cách thức trên.
Nhà sản xuất, nhập khẩu phải đăng ký kế hoạch tái chế và báo cáo kết quả tái chế theo quy định quy định thông qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia trước ngày 01/4 hằng năm.
Hoặc
(ii) Đóng góp tài chính:
Nhà sản xuất, nhập khẩu phải kê khai số tiền đóng góp tài chính thông qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia trước ngày 01/4 hằng năm. Đóng góp tài chính được xác định theo công thức:
F = R x V x Fs
Trong đó, F là tổng số tiền phải đóng góp theo từng sản phẩm, bao bì (đồng); R là tỷ lệ tái chế bắt buộc (%); V là khối lượng sản phẩm, bao bì đưa ra thị trường (kg) và Fs là mức đóng góp trên mỗi kg sản phẩm, bao bì (đồng/kg).
Quy định về trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon với đối tác quốc tế áp dụng từ ngày 19/5/2026
Ngày 01/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon (“Nghị định 112”). Theo đó, Nghị định 112 xác lập các quy định về việc trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon giữa Việt Nam và đối tác quốc tế được thực hiện trong khuôn khổ Thỏa thuận hợp tác thực hiện theo khoản 2 Điều 6 Thỏa thuận Paris (“Thỏa thuận Điều 6.2”) hoặc theo cơ chế quy định tại khoản 4 Điều 6 Thỏa thuận Paris (“Cơ chế Điều 6.4”) hoặc ngoài khuôn khổ Thỏa thuận Điều 6.2 và Cơ chế Điều 6.4, cụ thể:
(1) Nguyên tắc trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon:
· Tuân thủ quy định của Thỏa thuận Paris; hỗ trợ phát triển, chuyển giao công nghệ giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế các-bon thấp tại Việt Nam;
· Ưu tiên thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong NDC của Việt Nam và các mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính theo các điều ước quốc tế và cam kết quốc tế;
· Bảo đảm lợi ích quốc gia và hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia, có đóng góp cho sự phát triển bền vững của cộng đồng địa phương nơi thực hiện chương trình, dự án.
(2) Tỷ lệ chuyển giao tối đa đối với lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon:
· Trường hợp chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng:
o 90% đối với các chương trình, dự án theo các biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính thuộc danh mục số 01 tại Phụ lục I Nghị định 112;
o 50% đối với các chương trình, dự án theo các biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính thuộc danh mục số 02 tại Phụ lục I Nghị định 112.
· Trường hợp chuyển giao quốc tế không điều chỉnh tương ứng: tỷ lệ chuyển giao tối đa là 90%.
(3) Quy trình đăng ký dự án theo Thỏa thuận Điều 6.2:
· Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chủ trì, thay mặt Chính phủ thực hiện các hoạt động đàm phán, ký kết và cấp Văn bản chấp thuận chuyển giao quốc tế.
· Quy trình đăng ký dự án theo Thỏa thuận Điều 6.2 gồm hai giai đoạn chính:
(i) Đăng ký ý tưởng dự án: Cơ quan, tổ chức nộp hồ sơ để Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá sự phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển ngành, địa phương. Kết quả đánh giá sẽ được thông báo trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ;
(ii) Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày ý tưởng dự án được chấp thuận đăng ký, cơ quan, tổ chức gửi 01 bộ hồ sơ đề nghị chấp thuận đăng ký dự án theo một trong các hình thức: trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc trực tuyến tại Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia.
Mọi hoạt động từ đăng ký ý tưởng đến chuyển giao quốc tế đều phải được ghi nhận và công bố công khai trên Hệ thống đăng ký quốc gia của Việt Nam để đảm bảo tính minh bạch và giám sát chặt chẽ.
Quản lý chất lượng và chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal từ ngày 01/6/2026
Ngày 06/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 127/2026/NĐ-CP quy định về quản lý chất lượng và chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal. Theo đó, Nghị định này quy định về tiêu chuẩn sản phẩm, dịch vụ Halal có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/6/2026 như sau:
- Tiêu chuẩn quốc gia về sản phẩm, dịch vụ Halal được xây dựng, công bố và áp dụng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Quá trình xây dựng, sửa đổi tiêu chuẩn quốc gia về sản phẩm, dịch vụ Halal phải bảo đảm có sự tham gia của đại diện Bộ Dân tộc và Tôn giáo và chuyên gia là người Hồi giáo có chuyên môn về các yêu cầu Halal trong quá trình tham vấn, thẩm định các nội dung liên quan.
- Việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài về sản phẩm, dịch vụ Halal thực hiện như sau:
· Trường hợp sản xuất sản phẩm, dịch vụ Halal để xuất khẩu: Cơ sở sản xuất áp dụng tiêu chuẩn sản phẩm, dịch vụ Halal theo yêu cầu, thỏa thuận hoặc hợp đồng với tổ chức, cá nhân nhập khẩu;
· Trường hợp sản xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm, dịch vụ Halal để tiêu thụ trong nước: Cơ sở sản xuất hoặc nhập khẩu áp dụng tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc có thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn quốc gia của các nước Hồi giáo về sản phẩm, dịch vụ Halal.
- Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được khuyến khích xây dựng và công bố tiêu chuẩn cơ sở đối với sản phẩm, dịch vụ Halal của mình đối với các sản phẩm, dịch vụ chưa có tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn quốc gia của các nước Hồi giáo tương ứng. Tiêu chuẩn cơ sở phải đảm bảo phù hợp với các nguyên tắc và yêu cầu chung của các tiêu chuẩn Halal quốc tế, khu vực được thừa nhận rộng rãi.
- Các tiêu chuẩn áp dụng cho sản phẩm, dịch vụ Halal nêu trên không được trái với các quy định pháp luật của Việt Nam.
Doanh nghiệp có tổng doanh thu năm dưới 1 tỷ đồng không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp từ ngày 01/01/2026
Ngày 29/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và Nghị định số 320/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo đó, một số nội dung đáng chú ý như sau:
- Từ ngày 01/01/2026, doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có tổng doanh thu năm từ 1 tỷ đồng trở xuống được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (“TNDN”), cụ thể:
· Tổng doanh thu năm là tổng doanh thu từ hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ (không bao gồm các khoản giảm trừ doanh thu), doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác của kỳ tính thuế năm trước liền kề.
· Trường hợp thời gian hoạt động của kỳ tính thuế năm trước liền kề dưới 12 tháng thì tổng doanh thu kỳ tính thuế năm trước liền kề được xác định bằng tổng doanh thu thực tế trong kỳ tính thuế đó chia cho số tháng doanh nghiệp thực tế hoạt động nhân 12 tháng. Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách trong tháng bất kỳ của kỳ tính thuế năm trước liền kề thì thời gian hoạt động được tính đủ tháng.
· Doanh nghiệp mới thành lập dự kiến tổng doanh thu trong kỳ tính thuế không quá 1 tỷ đồng thì không phải tạm nộp thuế TNDN. Kết thúc kỳ tính thuế, nếu tổng doanh thu thực tế trong kỳ tính thuế vượt mức 1 tỷ đồng thì doanh nghiệp thực hiện kê khai, quyết toán thuế TNDN và không phải tính tiền chậm nộp.
· Quy định miễn thuế này không áp dụng đối với doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam là công ty con hoặc công ty có quan hệ liên kết mà doanh nghiệp trong quan hệ liên kết không phải là doanh nghiệp đáp ứng điều kiện miễn thuế.
- Áp dụng trong giai đoạn chuyển tiếp:
· Trường hợp doanh nghiệp đã tạm nộp thuế TNDN quý I năm 2026 mà đáp ứng điều kiện miễn thuế thì không phải tạm nộp thuế TNDN các quý tiếp theo, được bù trừ, hoàn trả, hoàn trả kiêm bù trừ thu ngân sách đối với số thuế nộp thừa.
· Trường hợp kỳ tính thuế năm 2025 có thời điểm kết thúc sau ngày 01/01/2026 mà doanh nghiệp đáp ứng điều kiện miễn thuế thì được miễn thuế TNDN cho thời gian tính từ ngày 01/01/2026 đến hết kỳ tính thuế năm 2025.
Thông qua Ngày Văn hóa Việt Nam từ ngày 01/7/2026
Ngày 24/4/2026, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam. Theo đó, Nghị quyết thông qua quy định về một số cơ chế, chính sách phát triển văn hóa Việt Nam, cụ thể:
- Quy định ngày 24 tháng 11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương.
- Miễn hoặc giảm phí, lệ phí dịch vụ tham quan tại các cơ sở văn hóa, thể thao công lập vào Ngày Văn hóa Việt Nam theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Nghị quyết số 28/2026/QH16 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế trên thị trường tài sản mã hóa
Ngày 06/4/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 41/2026/TT-BTC hướng dẫn việc kê khai, khấu trừ, nộp thuế, quyết toán thuế trên thị trường tài sản mã hóa. Theo đó, tổ chức có hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa theo quy định (“Tổ chức cung cấp dịch vụ”), tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, các tổ chức này có hoạt động giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa trên thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam thực hiện kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế như sau:
(i) Kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng:
· Hồ sơ khai thuế: Quy định tại Mục 2 - Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 373/2025/NĐ-CP.
· Mẫu biểu: Quy định tại Mục II – Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 80/2021/TT-BTC, sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 40/2025/TT-BTC.
(ii) Kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp:
· Hồ sơ khai thuế: Quy định tại Mục 7 - Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 373/2025/NĐ-CP.
· Mẫu biểu: Quy định tại Mục VI – Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 80/2021/TT-BTC, sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 40/2025/TT-BTC, Thông tư số 94/2025/TT-BTC, Thông tư số 21/2026/TT-BTC.
Tổ chức cung cấp dịch vụ, tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam phải xác định số thuế tạm nộp hàng quý để nộp tiền thuế TNDN và số thuế TNDN đã tạm nộp được trừ với số thuế TNDN phải nộp theo quyết toán thuế năm.
Hồ sơ quyết toán thuế năm chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng thứ 3 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính.
(iii) Trách nhiệm khấu trừ, nộp thay, kê khai số thuế đã khấu trừ:
Tổ chức cung cấp dịch vụ có trách nhiệm khấu trừ, nộp thuế thay số thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh đối với mỗi giao dịch chuyển nhượng tài sản mã hóa mà tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài thực hiện thông qua Tổ chức cung cấp dịch vụ; khấu trừ, nộp thuế thay số thuế thu nhập cá nhân phát sinh đối với mỗi giao dịch chuyển nhượng tài sản mã hóa mà cá nhân (bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú) thực hiện thông qua Tổ chức cung cấp dịch vụ.
Quy định về chương trình điều tra thống kê quốc gia đối với doanh nghiệp
Ngày 06/4/2026, Thủ tướng ban hành Quyết định số 14/2026/QĐ-TTg về Chương trình điều tra thống kê quốc gia. Chương trình gồm 03 cuộc tổng điều tra thống kê quốc gia và 42 cuộc điều tra thống kê được quy định cụ thể tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 14/2026/QĐ-TTg. Theo đó, điều tra doanh nghiệp được triển khai như sau:
- Đối tượng điều tra: Cơ sở sản xuất, kinh doanh có hoạt động sản xuất, kinh doanh trong phạm vi một ngành kinh tế tại một địa điểm (đơn vị ngành kinh tế theo địa bàn) của tất cả các ngành kinh tế Việt Nam (trừ một số ngành đặc thù).
- Đơn vị điều tra: Các tập đoàn; tổng công ty; doanh nghiệp; hợp tác xã và các chi nhánh hạch toán độc lập trực thuộc doanh nghiệp.
- Loại điều tra: Điều tra toàn bộ kết hợp điều tra chọn mẫu.
- Nội dung điều tra:
· Nhóm thông tin nhận dạng đơn vị điều tra;
· Nhóm thông tin về lao động, thu nhập của người lao động;
· Nhóm thông tin về nguồn vốn, tài sản, doanh thu, lợi nhuận của đơn vị điều tra;
· Nhóm thông tin về năng lượng;
· Nhóm thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn vị điều tra;
· Thu thập thông tin thống kê về lĩnh vực vốn đầu tư, xây dựng, tài khoản quốc gia;
· Thu thập thông tin thống kê về lĩnh vực công nghiệp;
· Thông tin thống kê về lĩnh vực thương mại và dịch vụ, kinh tế số, logistics, công nghệ thông tin, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;
· Nhóm thông tin về chi phí;
· Nhóm thông tin theo chuyên đề cần đánh giá, tùy thuộc yêu cầu thực tế.
- Kỳ điều tra: hằng năm (trừ năm tiến hành Tổng điều tra kinh tế).
- Cơ quan thực hiện: Bộ Tài chính (Cục Thống kê).
- Xử phạt vi phạm hành chính: Doanh nghiệp vi phạm quy định trong các hoạt động điều tra thống kê có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 95/2016/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 100/2021/NĐ-CP.
--------------------
Bản tin này chỉ cung cấp thông tin chung về các vấn đề liên quan và không phải là ý kiến tư vấn chính thức của chúng tôi. Nếu quý công ty cần thêm thông tin cụ thể về vấn đề này hoặc hỗ trợ chuyên môn cho các trường hợp cụ thể của doanh nghiệp, vui lòng liên hệ với chúng tôi.
Trân trọng cảm ơn.