Bản tin Tháng 08/2026
Ngày 28/09/2026
Quy định mới về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và kinh doanh khí N2O
Ngày 24/8/2026, Quốc hội ban hành Luật số 24/2026/QH16 (“Luật số 24”) sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 (“Luật Đầu tư 2025”). Theo đó, Luật số 24 sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến kinh doanh khí N2O và Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, cụ thể như sau:
(i) Bổ sung quy định cấm đầu tư kinh doanh đối với hoạt động kinh doanh khí N2O để sử dụng cho con người qua đường hô hấp, trừ mục đích y tế, công nghệ thực phẩm, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học và mục đích khác theo quy định của Chính phủ.
(ii) Ban hành Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thay thế cho Phụ lục IV ban hành kèm theo Luật Đầu tư 2025 (được cắt giảm, sửa đổi một số ngành, nghề bởi Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP). Theo đó, Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được điều chỉnh chỉ còn 137 ngành, nghề, cụ thể:
- Cắt giảm 02 ngành, nghề gồm:
(1) Hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tại Việt Nam;
(2) Hoạt động dầu khí.
- Sửa đổi 04 ngành, nghề gồm:
(1) Bãi bỏ hoạt động “kinh doanh địa điểm làm thủ tục hải quan” ra khỏi ngành, nghề “Kinh doanh địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan”;
(2) Thay đổi tên ngành, nghề “Kinh doanh dịch vụ quản lý quỹ hưu trí tự nguyện” thành “Kinh doanh dịch vụ quản lý quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung”;
(3) Hợp nhất 02 ngành, nghề có số thứ tự 54 và 55 tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP thành 01 ngành, nghề duy nhất “Kinh doanh, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, thử nghiệm, sửa chữa, bảo dưỡng tàu bay không người lái, phương tiện bay khác, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị của tàu bay không người lái, phương tiện bay khác”;
(4) Hợp nhẩt 04 ngành, nghề có số thứ tự 83, 84, 85 và 87 tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP thành 01 ngành, nghề duy nhất “Hoạt động giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên”.
- Bổ sung 01 ngành, nghề: Hoạt động dịch vụ hỗ trợ cấp thị thực của cơ sở kinh doanh được ủy quyền.
(iii) Điều khoản chuyển tiếp:
- Hợp đồng kinh doanh khí N2O nếu đã giao kết thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh tại Luật số 24 thì chấm dứt hiệu lực từ ngày 01/01/2027. Trong thời hạn tối đa 45 ngày từ ngày 01/01/2027, các bên tham gia hợp đồng thực hiện thanh lý hợp đồng theo quy định.
- Đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng đã bị bãi bỏ thì tổ chức, cá nhân được hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề này mà không cần đáp ứng điều kiện đầu tư kinh doanh. Trường hợp có nhu cầu, tổ chức, cá nhân được tiếp tục sử dụng các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận hoặc văn bản cho phép đầu tư kinh doanh khác đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đến hết thời hạn của văn bản, giấy tờ đó mà không phải thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh, gia hạn.
Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được phép mở tài khoản vốn đầu tư trước khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư từ ngày 18/8/2026
Ngày 31/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 38/2026/TT-NHNN (“Thông tư 38”) quy định về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thay thế cho Thông tư số 06/2019/TT-NHNN. Thông tư 38 có hiệu lực từ ngày 18/8/2026 với các thay đổi đáng chú ý như sau:
(i) Thuật ngữ “tài khoản vốn đầu tư trực tiếp” và “tài khoản vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài” bị thay thế bởi thuật ngữ “tài khoản vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”
Theo đó, khái niệm “tài khoản vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” không còn giới hạn trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, mà áp dụng cho toàn bộ giao dịch thu, chi liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và cả hoạt động đầu tư từ Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam vào phần còn lại của Việt Nam.
(ii) Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được phép mở 01 tài khoản vốn đầu tư bằng ngoại tệ và/hoặc 01 tài khoản vốn đầu tư bằng đồng Việt Nam trước khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (“GCNĐKĐT”)
- Trong giai đoạn trước khi được cấp GCNĐKĐT, tài khoản này chỉ được sử dụng để: nhận vốn điều lệ, tiền lãi từ số dư trên tài khoản; thanh toán các chi phí hợp pháp liên quan đến hoạt động chuẩn bị đầu tư tại Việt Nam và hoàn trả vốn cho nhà đầu tư, doanh nghiệp thành viên nếu không được cấp, điều chỉnh IRC.
- Sau khi được cấp, điều chỉnh GCNĐKĐT, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được mở thêm tài khoản vốn đầu tư bằng loại ngoại tệ khác và được sử dụng tài khoản vốn đầu tư đã mở để thực hiện các giao dịch thu, chi theo quy định.
(iii) Vốn, lợi nhuận và nguồn thu hợp pháp có thể được chuyển sang tài khoản thanh toán
Bên cạnh việc tiếp tục cho phép nhà đầu tư chuyển vốn, lợi nhuận và các nguồn thu hợp pháp ra nước ngoài thông qua tài khoản vốn đầu tư, Thông tư 38 cho phép nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp thành viên giữ lại các khoản tiền này tại Việt Nam để tiếp tục thực hiện dự án, hoạt động đầu tư.
Theo đó, trường hợp không chuyển vốn, lợi nhuận và nguồn thu hợp pháp ra nước ngoài hoặc không chuyển vào Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam thì khoản tiền này được phép chuyển từ tài khoản vốn đầu tư sang tài khoản thanh toán của nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp thành viên đó mở tại ngân hàng được phép.
(iv) Quy định chuyển tiếp
- Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã mở tài khoản thanh toán để nhận tiền góp vốn điều lệ trước ngày 18/8/2026 thì được chuyển số tiền góp vốn đó vào tài khoản vốn đầu tư được mở theo quy định tại Thông tư 38;
- Trừ trường hợp tài khoản vốn đầu tư đang được sử dụng để thực hiện các khoản vay, trả nợ nước ngoài hoặc nghĩa vụ thanh toán hợp pháp, tổ chức kinh tế phải đóng tài khoản vốn đầu tư trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày 18/8/2026 nếu: (1) không còn nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp thành viên nào sở hữu cổ phần, phần vốn góp tại tổ chức kinh tế đó; hoặc (2) không được cấp, điều chỉnh GCNĐKĐT và đã hoàn trả số tiền góp vốn.
Giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027
Ngày 24/8/2026, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 43/2026/QH16 về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp. Theo đó, thuế thu nhập cá nhân (“TNCN”), thuế thu nhập doanh nghiệp (“TNDN”) đối với cá nhân và doanh nghiệp sẽ được áp dụng mức giảm như sau:
(i) Đối với thuế TNCN: Giảm 30% số thuế TNCN phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú có mức doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 không quá 10 tỷ đồng.
(ii) Đối với thuế TNDN: Giảm 30% số thuế TNDN phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với thu nhập của doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có mức doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 không quá 10 tỷ đồng; trừ các doanh nghiệp được hình thành từ việc chia, tách doanh nghiệp sau ngày Nghị quyết này có hiệu lực, mà tổng doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 của các doanh nghiệp sau chia, tách trên 10 tỷ đồng.
Trường hợp doanh nghiệp đang được ưu đãi thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc các luật, nghị quyết khác của Quốc hội thì số thuế TNDN được giảm quy định tại khoản này tính trên số thuế TNDN phải nộp sau khi đã trừ ưu đãi thuế.
Nghị quyết số 43/2026/QH16 có hiệu lực thi hành từ ngày 24/8/2026 và áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027.
Hướng dẫn sử dụng nhãn, bao bì hàng hóa đã in tên cũ khi doanh nghiệp thay đổi tên
Ngày 25/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 39/2026/NQ-CP về cơ chế chuyển tiếp sử dụng nhãn, bao bì hàng hóa đã in tên cũ khi doanh nghiệp thay đổi tên nhưng không thay đổi pháp nhân và chủ thể chịu trách nhiệm về hàng hóa (“Cơ chế chuyển tiếp”). Theo đó, Cơ chế chuyển tiếp được áp dụng trên cơ sở nguyên tắc, điều kiện như sau:
(i) Điều kiện được tiếp tục sử dụng nhãn, bao bì đã in tên cũ: Doanh nghiệp thay đổi tên được tiếp tục sử dụng nhãn, bao bì đã in tên cũ đối với số lượng tồn kho tại ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (“GCNĐKDN”) ghi nhận tên mới khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Nhãn, bao bì được in, sản xuất trước ngày doanh nghiệp được cấp GCNĐKDN ghi nhận tên mới;
- Doanh nghiệp lưu giữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu để chứng minh thời điểm in, sản xuất nhãn, bao bì; số lượng nhãn, bao bì tồn kho tại ngày được cấp GCNĐKDN ghi nhận tên mới; tính liên tục của pháp nhân và chủ thể chịu trách nhiệm về hàng hóa; bảo đảm truy xuất được nguồn gốc hàng hóa;
- Việc tiếp tục sử dụng không làm sai lệch các thông tin bắt buộc khác trên nhãn, không gây nhầm lẫn về chủ thể chịu trách nhiệm, nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng, an toàn của hàng hóa. Thông tin về tên mới của doanh nghiệp phải được công khai và có thể tra cứu thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, trang thông tin điện tử của doanh nghiệp (nếu có), phương tiện thông tin đại chúng hoặc phương thức phù hợp khác.
Cơ chế chuyển tiếp này không áp dụng đối với nhãn, bao bì được đặt in, sản xuất mới mang tên cũ kể từ ngày doanh nghiệp được cấp GCNĐKDN ghi nhận tên mới.
(ii) Số lượng nhãn, bao bì hàng hóa đã in tên cũ được tiếp tục sử dụng: Số lượng tồn kho tại ngày doanh nghiệp được cấp GCNĐKDN ghi nhận tên mới.
(iii) Thời hạn sử dụng nhãn, bao bì đã in tên cũ để ghi nhãn, đóng gói hàng hóa: Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp GCNĐKDN ghi nhận tên mới.
(iv) Thời hạn lưu thông hàng hóa được ghi nhãn, đóng gói bằng nhãn, bao bì đã in tên cũ trong thời hạn quy định: được tiếp tục lưu thông đến hết hạn sử dụng của hàng hóa theo quy định của pháp luật.
Nghị quyết số 39/2026/NQ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/8/2026 và hết hiệu lực khi văn bản sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 98 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định về nội dung tương ứng (cho phép doanh nghiệp tiếp tục sử dụng nhãn hàng hóa, bao bì thương phẩm đã được sản xuất, in ấn theo quy định cũ trước đó trong thời hạn không quá 02 năm) có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp Chính phủ có quyết định khác.
Quy định về liên kết, xác thực tài khoản giao dịch điện tử với tài khoản định danh điện tử
Ngày 13/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 320/2026/NĐ-CP (“Nghị định 320”) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2024/NĐ-CP về định danh và xác thực điện tử. Nghị định 320 có hiệu lực áp dụng từ ngày 28/9/2026 và cập nhật một số điểm mới về việc liên kết, xác thực tài khoản giao dịch điện tử với tài khoản định danh điện tử như sau:
(i) Phạm vi người nước ngoài đủ điều kiện được cấp tài khoản định danh điện tử đã được mở rộng theo quy định của Nghị định 320. Theo đó, nước ngoài nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam hoặc cư trú hợp pháp tại Việt Nam được cấp tài khoản định danh điện tử không phân biệt theo mức độ khi có nhu cầu, thay vì chỉ giới hạn đối với những người đã được cấp thẻ thường trú, thẻ tạm trú tại Việt Nam như quy định tại Nghị định số 69/2024/NĐ-CP trước đây.
(ii) Quy định về liên kết, xác thực tài khoản giao dịch điện tử với tài khoản định danh điện tử:
- Nghĩa vụ liên kết, xác thực:
· Nghị định 320 bổ sung nghĩa vụ thực hiện liên kết, xác thực tài khoản giao dịch điện tử trên các nền tảng số phục vụ hoạt động thuộc lĩnh vực như: giáo dục, chứng khoán, viễn thông, ngân hàng, thương mại điện tử (người bán, người livestream bán hàng và người tiếp thị liên kết),... với tài khoản định danh điện tử.
· Các tài khoản giao dịch điện tử trên các nền tảng số phục vụ hoạt động quốc phòng, an ninh, dịch vụ xuyên biên giới, thì phải được liên kết, xác thực với tài khoản định danh điện tử trước khi sử dụng khi nền tảng số đáp ứng đủ điều kiện và được kết nối với nền tảng định danh và xác thực điện tử.
- Về thời hạn thực hiện liên kết, xác thực:
· Đối với các nền tảng số quốc gia: phải tích hợp việc sử dụng tài khoản định danh điện tử trong xác thực, đăng nhập, thực hiện các giao dịch chậm nhất trước ngày 31/12/2026;
· Đối với các tài khoản giao dịch điện tử thuộc các lĩnh vực phải liên kết, xác thực (trừ lĩnh vực ngân hàng) đã tạo lập trước ngày 28/9/2026: phải được liên kết, xác thực với tài khoản định danh điện tử chậm nhất trước ngày 31/12/2026;
· Đối với các tài khoản giao dịch điện tử thuộc lĩnh vực ngân hàng đã tạo lập trước ngày 28/9/2026: phải được liên kết, xác thực với tài khoản định danh điện tử chậm nhất trước ngày 30/6/2027.
Quy định về điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng từ ngày 19/8/2026
Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 332/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng nhằm đáp ứng các quy định mới theo Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15. Theo đó, tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng cần lưu ý các điều kiện chung sau:
(i) Sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng:
- Sản phẩm an ninh mạng bao gồm các thiết bị phần cứng, phần mềm có các tính năng hoặc được thiết kế để tích hợp các tính năng phục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá, giám sát, chống tấn công, xâm nhập và các sản phẩm chuyên dụng như sản phẩm bí mật thu thập thông tin, chế áp thông tin mạng, pháp y số, điều tra số, chế áp hệ thống mạng, che giấu địa chỉ IP.
- Dịch vụ an ninh mạng bao gồm dịch vụ kiểm tra, đánh giá an ninh mạng, bảo mật thông tin, tư vấn an nịnh mạng, giám sát, ứng cứu sự cố, khôi phục dữ liệu, phòng ngừa, chống tấn công mạng và các dịch vụ khác như cung cấp nền tảng kết nối, huấn luyện, diễn tập bảo vệ an ninh mạng, che giấu địch chỉ IP và săn tìm, báo cáo lỗ hổng bảo mật.
(ii) Tổ chức, doanh nghiệp phải có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng khi kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng theo quy định.
(iii) Điều kiện chung để được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng
a. Điều kiện về tư cách pháp lý
- Được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, không vi phạm quy định của pháp luật về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.
- Đối với các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thời hạn đầu tư tại Việt Nam phải còn nhiều hơn 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.
b. Điều kiện về nhân sự
- Đối với người đại diện theo pháp luật, người quản lý hoặc người được người đại diện theo pháp luật, người quản lý ủy quyền:
· Trường hợp là người Việt Nam: không thuộc một trong các trường hợp sau đây:
o Đã bị khởi tố hình sự mà các cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam hoặc của nước ngoài đang tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc có tiền án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác định là có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác do lỗi cố ý, chưa được xóa án tích;
o Đang trong thời gian được tạm hoãn chấp hành hình phạt tù;
o Đang bị quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo quyết định của Tòa án hoặc đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu;
o Đang được tạm hoãn, tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
o Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu nước ngoài chưa được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp phép cư trú, lao động tại Việt Nam.
· Trường hợp là người nước ngoài: phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp phép cư trú, lao động tại Việt Nam.
- Nhân sự chịu trách nhiệm kỹ thuật: Tổ chức, doanh nghiệp phải có nhân sự chịu trách nhiệm kỹ thuật phù hợp với loại hình sản phẩm, dịch vụ kinh doanh. Nhân sự này phải có bằng đại học trở lên hoặc có chứng chỉ chuyên ngành an ninh mạng, an toàn thông tin, công nghệ thông tin, điện tử viễn thông.
c. Điều kiện về kỹ thuật: Có hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất và công nghệ phù hợp với hoạt động đầu tư, kinh doanh và loại hình sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng đăng ký kinh doanh.
(iv) Thời hạn của Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng: 10 năm.
(v) Quy định chuyển tiếp
Trường hợp tổ chức, doanh nghiệp có các hợp đồng kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng đã được ký kết và có giá trị trước ngày 19/8/2026 thì tổ chức, doanh nghiệp vẫn tiếp tục được thực hiện các nội dung trong hợp đồng.
--------------------
Bản tin này chỉ cung cấp thông tin chung về các vấn đề liên quan và không phải là ý kiến tư vấn chính thức của chúng tôi. Nếu quý công ty cần thêm thông tin cụ thể về vấn đề này hoặc hỗ trợ chuyên môn cho các trường hợp cụ thể của doanh nghiệp, vui lòng liên hệ với LA.
Trân trọng cảm ơn.